This is default featured slide 1 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 2 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 3 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 4 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 5 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

Thứ Hai, 24 tháng 4, 2017

本音 và 建前 qua ngôn ngữ

本音(honne: thực tâm)と建前(tatemae: bề ngoài), hay là sự "giả tạo" của người Nhật.
Nhiều người nghĩ rằng người Nhật "giả tạo". Trước khi nói về cái giả tạo này, nên rạch ròi mấy nghĩa tiếng Việt mà nhiều người dùng lẫn lộn nhau.
1. Giả tạo tức là nghĩ một đằng nói một nẻo. Sống 2 mặt.
2. Giả dối tức là nói một đằng làm một nẻo. Treo đầu dê bán thịt chó.
3. Tiêu chuẩn kép (double-standard), tức là khó người dễ ta, đạo đức giả.
Honne và Tatemae chỉ là nói về sự "giả tạo", đó là 1 mặt văn hóa của người Nhật, một văn hóa rất nổi tiếng. Người Nhật tránh không nói thẳng ra suy nghĩ xấu về đối phương, cố gắng nói tốt, nếu nói dối là vô hại thì họ sẽ nói dối để làm vui lòng đối phương. Cũng có khi là để trốn tránh hiện thực, để tạo tự vệ, để tự tồn tại, để tránh đối đầu. Nói chung thì quá mức sẽ làm cho người khác nghi ngờ con người thật của mình, nhưng ở một mức độ nhất định thì chính người Việt cũng vậy đó. Đó là văn hóa chung của người Đông Bắc Á. Trong nước VN thì người miền Bắc cũng có văn hóa này, so với văn hóa "thẳng ruột ngựa" của người miền Nam.
Sự giả dối, thì chắc là người Nhật không đáng bị nói mà chính là người VN cơ. Người Việt chúng ta chắc tự biết với nhau đã đủ nhỉ? ;)
Còn tiêu chuẩn kép, cả thế giới mắc phải bệnh này, nhất là về chính trị. Một số người Việt nói rằng bọn nó chê mình thế này thế nọ nhưng chính chúng nó cũng thế, thì đấy chính là tiêu chuẩn kép, chứ không phải là giả tạo nhé.
Hai mặt giả dối và tiêu chuẩn kép thì không bàn ở đây. Nói tiếp về sự giả tạo thôi.
Honne và Tatemae thực tế như thế nào?
Tatemae: "bạn thật là giỏi tiếng Nhật"
Honne: "biết vài câu tiếng Nhật như thế là đáng khen hơn người không biết câu nào rồi"
Tatemae: "món ăn này ngon lắm."
Honne: "nhìn cách tôi ăn là biết chứ gì"
Tatemae: "sắp đến giờ chuyến tàu cuối của anh chưa?"
Honne: "thôi giải tán đi chứ nhỉ"
Tatemae: "cá tính ra phết nhỉ"
Honne: "hơi bị một mình một kiểu đấy"
Tatemae: "nếu có thời gian thì tôi sẽ tham gia"
Honne: "không quan tâm"
Tatemae: "để lần sau nhé"
Honne: "lần sau là mùa quýt đấy"
Tatemae: "quý khách để điện thoại hơi xa nhỉ"
Honne: "ông nói to lên"
Tatamea: "đã có cố gắng"
Honne: "vô tích sự"
Tatemae: "tôi có chút quà mọn"
Honne: "tôi rất quý anh"
Tatemae: "tôi biết là ở đâu cũng có người này người nọ"
Honne: "bọn cậu đang gây phiền toái đấy"
...
Vậy người Việt thì sẽ như thế nào? Sẽ nói thẳng tuột hay không? Mong chờ các comment thú vị ở dưới.
Lưu ý: bài viết mang quan điểm cảm nhận cá nhân.
Viết thêm: bài viết này không cổ vũ sự "giả tạo" với ý là sống không thật, chỉ muốn nói rằng sự nói giảm nói tránh là văn hóa của người Nhật, và thực ra VN cũng có đấy chứ không phải là không. Họ cũng không có ý làm hại ai với cái văn hóa đó mà thực ra là ngược lại. Khi mà đã thuộc về văn hóa thì có nhiều cách nhìn, nhiều cách đánh giá tùy theo người đánh giá. Nhưng cũng như tất cả mọi thứ khác, cái gì quá cũng đều là không tốt.

相談 (soudan) là gì?

相談 (soudan) là gì?
2 chữ Hán này có âm Hán Việt là Tương Đàm, nhưng trong tiếng Nhật không có nghĩa đơn thuần là nói chuyện với nhau, mà nghĩa là "xin ý kiến, xin tư vấn của người hiểu chuyện, người phụ trách, người tư vấn ...". Việc 相談 này có thể diễn ra trong nhiều mặt của cuộc sống, và thực ra nên 相談 khi có khó khăn.
Khi muốn xin visa, đổi visa, băn khoăn về tình trạng visa của mình, có thể đến 相談 ở Cục Nhập Cảnh (入国管理局, Nyukan). Trách nhiệm của họ là quản lý việc xuất nhập cảnh và cư trú của người nước ngoài nhưng không phải là để ngăn chặn người nước ngoài không vào Nhật, mà là tạo điều kiện cho người nước ngoài cư trú ở Nhật một cách hợp pháp. Vì vậy chỉ để xin tư vấn thì không có gì phải sợ cả, và hoàn toàn miễn phí.
Khi muốn học lên đại học, trường chuyên môn (semmon)... thì nên xin tư vấn với chính giáo viên của trường tiếng Nhật, hoặc sempai của mình. Nhiều trường còn cử ra 1 giáo viên hoặc 1 ban chuyên tư vấn về việc học lên (進学, shingaku), về điều kiện để được cấp 推薦 suisen (thư tiến cử, giới thiệu với trường muốn học lên). Ít nhất họ cung cấp thông tin, khuyên bảo đường đi nước bước.
Khi muốn xin việc cũng vậy, các trường tiếng Nhật thì có thể không có nhưng các trường đại học và semmon thường có phòng tư vấn về xin việc, về thư giới thiệu vào các công ty. Nếu học trường lớn, học với giáo sư có uy tín thì thường họ sẽ giới thiệu vào các công ty lớn theo nguyện vọng của mình. Tất nhiên là thời bây giờ không nhất thiết xin vào công ty lớn mới có việc tốt nhưng đó cũng là 1 lựa chọn không tồi.
Khi vào công ty hay nơi làm việc, nếu gặp khó khăn thì nên 相談 với đàn anh hoặc với chính sếp của mình. Các công ty Nhật hay đề cao 3 việc mà nhân viên nên làm, chơi chữ như sau: Hou-ren-sou, đó là viết tắt của 報告 Houkoku (báo cáo), 連絡 Renraku (liên lạc), 相談 Soudan (trao đổi, xin ý kiến), nhưng đọc như tên 1 loại rau ほうれん草 vậy.
Điều quan trọng cần nhớ ở Nhật: khi gặp khó khăn thì nên hỏi ý kiến của mọi người xung quanh, nhất là hỏi các cơ quan hành chính: 区役所 kuyakusho hoặc 市役所 shiyakusho (cơ quan hành chính địa phương), 税務署 zeimusho.

Phát âm phân biệt おじさん với おじいさん như thế nào

Có bài viết trên blog này của một giáo viên tiếng Nhật tại TpHCM, mình thấy rất có ích. Ai ở TpHCM thử tìm làm quen xem nhé. Lưu ý là anh ấy đã có vợ VN rồi. :-) Nội dung dài nhưng tóm gọn là để phân biệt おじさん với おじいさん không phải chỉ đọc ngắn dài là được, mà phải lưu ý đến accent (trọng âm, thanh điệu).
-----------------------
  じ さ ん

-----------------------
  じ
お  い さ ん
-----------------------
Nếu không lưu ý đến độ cao này thì cả 2 cách đọc đều nghe như おじいさん, có thể gây ra hiểu lầm và sự bực bội như trong bài viết.

Katakana được dùng như thế nào?

Katakana được dùng như thế nào?
Tiếng Nhật có chữ cứng katakana, rất tiện lợi để thể hiện phiên âm tiếng nước ngoài. Ngoài tiếng Anh được phiên âm phổ biến, ví dụ オフィス=office, thì còn có tiếng Đức, tiếng Pháp, tiếng Hà Lan do lịch sử giao lưu kinh tế văn hóa từ các thế kỷ trước. Những từ ngoại lai có nguồn gốc ngoài tiếng Anh này có khoảng vài trăm từ, nhưng phổ biến trong cuộc sống chỉ khoảng vài chục từ thôi. Ví dụ:
アンケート=enquette (tiếng Pháp),
コーヒー=koffie (tiếng Hà Lan),
アルバイト=Arbeit (tiếng Đức).
Tiếng Anh thì tuy phổ biến, nhưng người Nhật tự chế ra nhiều hợp ngữ tiếng Anh, gọi là 和製英語. Những từ này tuy hiểu dễ dàng nhưng người Anh Mỹ bản xứ lại không nói vậy, khiến cho không chỉ người Nhật nhầm lẫn dùng khi nói tiếng Anh, mà còn làm cho những người học tiếng Nhật mà không phải người Anh Mỹ cũng nhầm. Ví dụ: サラリーマン=salary man (Mỹ: office worker), ノートパソコン=note PC (Mỹ: laptop/notebook computer). Đây là chủ đề thú vị nên nếu ai sưu tầm nhiều từ này mang ra bàn tán với người Nhật thì xôm trò ra phết đấy.
Vậy ngoài phiên âm tiếng nước ngoài ra thì katakana được dùng thế nào?
Thứ nhất, có nhiều từ có thể dùng tiếng Nhật thuần mà người Nhật vẫn dùng katakana vì lý do nghe hay hơn (^^), nghe sang trọng hơn, hợp ngữ cảnh ngoại quốc hơn, hoặc để nghe ý nhị hơn. Ví dụ:
ビューティサロン thay vì 美容室 (sang trọng hơn)
スタッフ thay vì 従業員 (bình đẳng quan hệ lao động hơn)
ローン thay vì 借金 (ý nhị hơn)
ザ・ワールド! thay vì 世界!(hay ho hơn)
スイーツ thay vì 菓子 (bánh ngọt kiểu Tây chứ không phải kiểu Nhật)
...
Thứ hai, đối với tiếng Nhật thuần mà cố tình viết bằng katakana thì sẽ có ý cường điệu, hoặc vui đùa. Ví dụ:
すごい <- スゴイ hoặc スッゴい!
ニッポン <- 日本
Thứ ba, khi viết email hoặc viết thư mà không rõ tên người nhận viết chữ Hán như thế nào, thì có thể viết chung chung bằng katakana. Ví dụ:
セキザワ様 (関澤・関沢)
Thứ tư, cái này thì ít gặp thôi, là những tên động thực vật có tên khoa học, dù là gốc từ Nhật thuần, cũng hay được viết bằng katakana. Ví dụ:
ニッポンザル (日本猿)
Chắc thế là đã đủ rồi đấy.

Nói về chữ 活.

Nói về chữ 活.
Một từ tiếng Nhật mà nhiều du học sinh chưa biết sẽ phải biết, đó là 就活(しゅうかつ), viết tắt của chữ 就職活動(しゅうしょくかつどう), tức là (hoạt động) tìm việc làm sau khi tốt nghiệp. Tại sao lại có chữ 活動 ở đây, trong khi người Việt nói đơn giản là đi tìm việc? Đó là bởi vì ở VN có thể đi tìm việc rả rích không tập trung, thích thì nghỉ, kéo dài qua năm này năm nọ... trong khi ở Nhật thì các hoạt động này có thời kỳ của nó, đó là tập trung vào 1, 2 năm sau trước khi tốt nghiệp trường đang học, nhằm mục đích đi làm được từ tháng 4 ngay sau khi tốt nghiệp vào tháng 3. Các hoạt động này cũng phải rất chuyên nghiệp, phải đầu tư công sức tìm hiểu thông tin, đăng ký vào các website hay hội chợ việc làm, bây giờ còn là Facbook fanpage của các công ty lớn nữa. Rồi là đầu tư vào quần áo riêng, gọi là "recruit suite", tức comple mẫu mã riêng của dân 就活 :-) (tuy nhiên không nhất thiết mẫu mã riêng gì, chỉ cần comple không lòe loẹt đắt tiền là đủ), chuẩn bị profile riêng của mình, nội dung chuẩn bị sẵn để giới thiệu bản thân... Bài này không tập trung vào các nội dung này vì có nhiều website chuyên nghiệp giới thiệu đầy đủ rồi, mọi người tìm hiểu ở đó thì hơn. Chắc mọi người sẽ thấy, ở Nhật làm gì cũng theo quy trình, mang tính chuyên nghiệp, nhưng thông tin rõ ràng, cố gắng là được, không phải lắt léo quan hệ đi đêm này nọ.
Bây giờ nói tiếp về chữ 活 này. Hoạt động chuyển việc sẽ dùng chữ 転職活動(てんしょくかつどう), lại có quy trình riêng. Đi tìm bạn đời dựa vào công ty môi giới thì có 婚活(こんかつ)viết tắt của 結婚活動. Ở VN chắc chưa có nhiều hoạt động này, nhưng ở một đất nước mà con người ngại va chạm tiếp xúc, ít ga-lăng, ít thể hiện tình cảm ra ngoài như người Nhật, thì các hoạt động này rất quan trọng và nên được khuyến khích. Có một 活 nữa mà nhiều người Việt chắc bất ngờ, đó là 終活 cũng là しゅうかつ nhưng là các hoạt động chuẩn bị cho việc cuối đời người, từ viết di chúc cho đến tổ chức tang lễ, hay chuẩn bị mộ phần... Làm gì cũng có kế hoạch là tính cách của người Nhật.
Hiện giờ trên TV đang có một series anime dành cho trẻ em gái tên là アイカツ, viết tắt của アイドル活動, nói về các hoạt động vui chơi của một nhóm bé gái xinh xắn chơi trò アイドル(lấy từ chữ idol tiếng Anh, nhưng nghĩa là các thần tượng trẻ xinh đẹp của công chúng). Các hoạt động marketing liên quan đến mỗi series anime này mang lại hàng tỉ Yên lợi nhuận, nhưng nhìn một cách tích cực thì nó mang lại đời sống tinh thần phong phú cho bao nhiêu thế hệ trẻ em cũng như người lớn mà ít có nước nào có được.

だめになる / だめにする

[ だめになる / だめにする ]
だめ tức là "hỏng", "không dùng được", "vô tích sự", chắc ai mới học tiếng Nhật cũng biết rồi. Khi nào bị nói "dame" thì biết là bị chê, mắng, từ chối rồi.
だめにする thì là làm hỏng, だめになる là bị làm hỏng, đúng không? Nhưng thành ngữ này lại có nghĩa dễ thương lắm: cái gì đó rất là thoải mái, dễ chịu làm cho con người ta chỉ muốn nghỉ ngơi, nằm ì ra, không muốn dậy nữa.
Ví dụ xem bài dưới đây thì sẽ thấy cái ghế sofa "人をダメにするソファ" làm cho người ta "hỏng" theo các mức độ thế nào. :-)
Mình thì cứ nghe nhạc vàng là cảm thấy だめになる, nên mới hiểu vì sao ngày xưa nhạc vàng bị cấm, tuy rằng là vi phạm tự do văn hóa.

Thứ Sáu, 24 tháng 2, 2017

Bí quyết luyện thi JLPT

Điều quan trọng nhất khi luyện thi tiếng Nhật (JLPT) là luyện tập thật nhiều.

Đó là cả một quá trình luyện tập lâu dài chứ không phải là làm các bài tập chỉ một hay hai tuần trước khi thi.
Mình có một vài lời khuyên dựa vào kinh nghiệm của nhóm hi vọng có thể sẽ giúp ích cho bạn:

1. Từ vựng 文字・語彙 (moji・goi)

Chúng ta đều rất sợ phần này. Có thể bởi vì các ký tự Kanji thực rất khó nhớ. Không có cách nào học từ vựng hiệu quả ngoài việc phải chăm chỉ.
Hãy tạo thói quen học từ vựng mỗi ngày. Bạn càng biết nhiều từ vựng tiếng Nhật bạn càng có khả năng chọn đáp án đúng ở phần thi này.

2. Ngữ pháp 文法 (bunpou)

Ngữ pháp thường là phần dễ nhất trong bài thi. Phần này kiểm tra kỹ năng về ngữ pháp tiếng Nhật được yêu cầu ở cấp độ bạn thi dưới dạng ý nghĩa và cách dùng. Cách dùng bao gồm ngữ pháp để tạo câu như thế nào, dùng thể hiện tại hay quá khứ…
Khi bạn đã học và hiểu về ý nghĩa và cách dùng của các cấu trúc ngữ pháp, cũng như luyện tập rất nhiều với các câu hỏi ngữ pháp giáo trình Nihongo thì sẽ không khó để bạn có thể kiếm điểm cao ở phần này.
Ngoài ra việc có một vốn ngữ pháp tốt cũng giúp bạn hiểu các bài báo dễ dàng hơn trong phần đọc.

3. Đọc hiểu 読解 (dokkai)

Phần đọc hiểu tiếng Nhật được chú ý hơn với các cấp độ cao (N1 và N2). Nhiều người yếu trong phần đọc hiểu và điểm tổng của họ thường bị kéo xuống bởi phần này vì nó chiếm nhiều điểm nhất. Có thể là do có nhiều Kanji chưa học ở trong các bài đọc mà họ không quen hoặc chưa từng gặp trước đây.
Bên cạnh đó, mọi người thường có xu hướng tiêu tốn nhiều thời gian cho phần này để rồi sau đó nhận ra họ còn rất ít thời gian cho các phần khác. Đối với phần này, chúng tôi khuyên các bạn hãy làm phần ngữ pháp và từ vựng trước bởi vì thời gian cho các phần này là ít cố định hơn và cũng dễ hoàn thành hơn. Phần đọc luôn luôn là phần cuối cùng cho tới khi bạn đã hoàn thành các phần khác trước.
Nếu bạn đọc chậm, hãy đọc các đoạn ngắn trước. Nên bắt đầu đọc và trả lời các câu hỏi từ cuối bởi vì thường thì 2 bài đọc đầu tiên là phần dài nhất và chứa nhiều câu hỏi nhất.
Điểm mấu chốt trong việc đọc là không phải hiểu toàn bộ bài đọc mà phải hiểu câu hỏi đang hỏi cái gì. Do đó hãy đọc câu hỏi trước. Hầu hết các phần liên quan tới câu hỏi sẽ được gạch dưới trong bài đọc và câu trả lời có thể được tìm thấy trong một vài câu ở trước hoặc sau nó.
Bạn cũng phải có một vốn ngữ pháp thật tốt bởi vì nếu bạn không hiểu ngữ pháp bạn có thể dễ dàng hiểu nhầm ý nghĩa thực tế của các câu quan trọng chứa các câu trả lời.

4. Nghe hiểu 聴解 (choukai)

Nghe được coi là phần khó nhất đối với hầu hết các thí sinh bởi vì trong suốt bài thi bạn chỉ có một lần để nghe các câu hỏi và phải trả lời nó ngay lập tức, ngay cả khi bạn quên câu hỏi hoặc không hiểu chúng tí nào. Và không có thời gian để quay lại các câu hỏi trước mà bạn đã quên.
Trừ khi bạn đang sống ở Nhật bản, cách duy nhất để cải thiện kỹ năng nghe là nghe tiếng Nhật nhiều hơn, có thể thông qua các bài luyện nghe tiếng Nhật online hoặc các đĩa CD.
Hãy làm theo công thức này càng nhiều càng tốt:
Nghe ít nhất 5 lần không nhìn vào lời thoại
Sau khi đọc lời thoại một lần, nghe lại ít nhất 5 lần nữa
Nghe cùng với lời thoại ít nhất 3 lần nữa
Không nhìn vào lời thoại, cố gắng đọc to khi bạn nghe ở 3 lần tiếp nữa
Mặc dù nghe theo cách trên rất tốn thời gian nhưng nó rất hiệu quả để bạn quen với các loại câu hỏi có trong bài thi.